BỆNH VIỆN ĐKKV BẮC QUẢNG NAM

Ái Nghĩa, Đại Lộc, Quảng Nam

Tìm hiểu về Đảng bộ Quảng Nam

Posted by bvkvbacquangnam on Tháng Mười 15, 2007

Đề cương tham khảo

 “Đảng bộ Quảng Nam – 78 năm xây dựng  và trưởng thành

Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam

Các phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược ở  nước ta cuối thế kỷ XIX đầu XX, liên tục nổ ra nhưng đều thất bại. Trước tình hình đó,  năm 1911,  Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái  Quốc) đã ra đi tìm đường cứu nước. Năm 1920, Người đã đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề  dân  tộc và thuộc địa ” của Lênin. Bản luận cương đã giúp người chọn được con  đường  giải phóng dân tộc cho cách mạng Việt Nam: Tháng 6 năm 1925, từ nhóm thanh niên cách mạng đầu tiên do người tập hợp  ở  Quảng Châu – Trung Quốc (cuối  1924), Người đã  lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh  niên.

Ở  Quảng Nam – Đà Nẵng sau những cuộc vận động cách mạng đầu thế kỷ XX  bị thất bại, nhân dân càng khao khát tự do bao nhiêu, càng nung nấu ý chí cách mạng. Từ các phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu (1925), rồi phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh (1926), là những luồng sinh khí  mới  thổi  bùng lên ngọn lửa yêu nước.

Vào những năm 1925-1927,  có nhiều sách báo tiến bộ lưu hành như Tiếng  dân,  Tân thế kỷ,  Tiếng chuông rè… Đặc biệt là báo Người cùng khổ, Việt Nam hồn  do Nguyễn Ái  Quốc sáng lập đã được các thanh niên yêu nước truyền tay nhau đọc Quảng Nam. Từ các tài liệu do Nguyễn Ái  Quốc và tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đưa về đã hâm nóng bầu không khí chính trị trong tỉnh. Qua các cuộc vận động, tại Quảng Nam nhiều tổ chức yêu nước ra đời như Hội tri thức thể thao  (Tam Kỳ)... Bắt đầu từ đây những hạt giống đỏ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt nảy mầm trên đất Quảng. Năm 1927, Ban Vận động Hội Việt  Nam cách mạng thanh niên  tỉnh Quảng Nam được thành lập  ở  Huế và sau đó  chuyển về Đà Nẵng hoạt động. Đến tháng 9 năm 1927, chi bộ Hội Việt Nam cách  mạng  thanh niên   ở  Đà Nẵng được thành lập do Đỗ Quang làm Bí thư. Cũng trong  thời  gian này,  ở  Đà Nẵng còn có một tổ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do Nguyễn Tường phát triển vào số cán bộ cốt cán của Hội ái hữu lái xe miền Trung, gồm có Phan Văn Định, Nguyễn Văn Giao. Ở Hội An một chi bộ Hội Việt Nam  cách mạng thanh niên được thành lập vào tháng 10-1927, tại nhà Đức An (nay là số nhà 129, đường  Trần Phú, thị xã Hội An) do Phan Thêm (tức Cao Hồng Lãnh làm bí thư).

Trên cơ sở từ 3 đầu mối trên, đầu năm 1928, một cuộc hội nghị thành lập Tỉnh  bộ  Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Quảng Nam được tổ chức ở  gần Giếng Bộng  (Đà Nẵng). Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên  Quảng  Nam gồm  có Đỗ Quang, Nguyễn Thái, Phan Thêm, Nguyễn Tường, Phan Long, Thái Thị Bôi, Lê Văn Hiến do Đỗ  Quang làm bí thư.

Đến giữa năm 1929, Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng tỉnh Quảng Nam được thành lập.

Ngày 3-2-l930,  dưới sự  chủ trì  của đồng chí Nguyễn Ái  Quốc, hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản đã họp  ở Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc). Một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức ra đời. Hội nghị thông qua Chinh Cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn  tắt của Đảng.

Ở  Quảng Nam-Đà Nẵng, sau khi nghe  phái viên của Đảng Cộng sản Việt Nam báo tin thắng lợi của hội nghị Cửu Long, phổ biến chính cương, sách lược, điều lệ tóm tắt, Tỉnh bộ lâm  thời Đông Dương cộng sản Đảng Quảng Nam nhất trí    thực hiện chủ trương hợp nhất của Trung ương Đảng.

Ngày 28 tháng 3 năm 1930, tại Cây  Thông Một, Hội  An (nay thuộc xã Cẩm Hà,  thị xã Hội An), Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam ra thông cáo  về việc thành lập đảng bộ và công bố từ nay chỉ có một  Đảng  Cộng sản duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam đẫn đường cho công, nông, binh, nhân dân lao động bị áp bức đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Ban Chấp hành lâm thời gồm có’ các đồng chí: Phan Văn Định, Phạm Thâm, Nguyễn Thái; đồng chí Phan Văn Định làm Bí thư.

Đảng bộ tỉnh Quảng  Nam được thành lập  là sự kiện có ý nghĩa rất quan  trọng đánh dấu một  mốc son của lịch  sử Quảng Nam – Đà Nẵng bước vào thời kỳ mới – thời kỳ đấu tranh dân tộc, dân chủ theo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

________________

 

(Nguồn: Lịch sử  Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006).

 

 

CÁC KỲ ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NAM (1930-2005)

 

Từ ngày thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (cả Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Đảng bộ Quảng Đà, Đảng bộ Đặc khu Quảng Đà) đã trải qua 19 kỳ đại hội.

1- Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ  I (6-1-1949)

Ngày 6-1-1949, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam  lần  thứ nhất họp tại xã Tam Anh, huyện Tam Kỳ (nay là huyện Phú Ninh).

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 25 ủy viên chính thức và 5 ủy viên dự khuyết, đồng chí Nguyễn Xuân Hữu được bầu làm Bí thư, các đồng chí Lê Binh và Cao Sơn Pháo được bầu làm Phó Bí thư.

2- Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ  II (tháng 2-1950)

Từ ngày 21-2-1950 đến ngày 2-3-1950, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ II được tổ chức tại làng Bà Bầu (Tam Kỳ) nay thuộc xã Tam Anh, huyện Núi Thành.

Đại hội bầu ra BCH Đảng bộ tỉnh gồm 15 đồng chí ủy viên chính thức và đồng chí ủy viên dự khuyết; đồng chí Cao Sơn Pháo được bầu làm Bí thư, đồng chí Lê Bình được bầu làm Phó Bí thư.

3- Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ  III (3-1952)

Tháng 3-1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng tái hợp thành một đơn vị hành chính là tỉnh QN-ĐN.

Tháng 3-1952, Đảng bộ tỉnh QN-ĐN triệu tập Đại hội lần thứ III tại xã Tiên Lập, huyện Tiên Phước, Quảng Nam.

Đại hội bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 22 đồng chí với 16 ủy viên chính thức và 6 ủy viên dự khuyết.  Đồng chí Võ  Chí Công (Võ Toàn) được Liên khu ủy chỉ định làm Bí thư; đồng chí Võ Văn Đặng làm Phó Bí thư phụ trách và làm Bí thư Thành ủy Đà Nẵng.

4- Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ  IV (1-1960)

Tháng 1-1960, Đại hội Đảng bộ tỉnh QN-ĐN lần thứ IV họp tại thôn Adhur (A Duân), bên bờ sông A Vương (nay thuộc huyện Đông Giang). Tham dự đại hội có 50 đại biểu chính thức và 20 đại biểu dự thính.

Đại hội bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 20 ủy viên do đồng chí Trương Chí Cương (Tư Thuận, Trương Kiểm) làm Bí thư.

5- Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ  V (1-1963)

Cuối  năm 1962, Tỉnh ủy QN-ĐN tổ chức Hội nghị tại Nà Cau (nay thuộc xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước). Chấp hành sự chỉ đạo của Khu ủy V, Hội nghị quyết định chia tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà.

Ngay sau khi chia tỉnh, vào tháng 1-1963, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Đà lần thứ V tổ chức tại làng Đào, huyện Hiên (nay thuộc huyện Đông Giang). Đại hội bầu  Ban Chấp hành mới gồm 16 đồng chí, đồng chí Hồ Nghinh được bầu làm Bí thư, cuối năm 1963 bổ sung đồng chí Trần Thận làm Phó Bí thư.

Trong khi đó, tại Nà Cau,  các đại biểu tỉnh Quảng Nam tiếp tục tiến hành Đại hội. Đại hội bầu BCH Đảng bộ tỉnh gồm 21 đồng chí; đồng chí Phạm Tứ (Mười Khôi) được bầu làm Bí thư; đồng chí Vũ Trọng Hoàng (Bốn Hương) và đồng chí Đào Đắc Trinh được bầu làm Phó Bí thư.

6- Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Đà và Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ VI(12-1964)

Tháng 12-1964, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Đà lần thứ VI được tổ chức Ô Rây, huyện Đông Giang. Đại hội bầu Ban Chấp hành mới gồm 20 ủy viên, đồng chí Hồ Nghinh được bầu làm Bí thư, đồng chí Trần Thận làm Phó Bí thư.

Cùng thời gian trên, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ VI  được tổ chức tại Đồng Linh, xã Bình Phú, huyện Thăng Bình. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 15 ủy viên, Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí, đồng chí Vũ Trọng Hoàng được bầu làm Bí thư, đồng chí Đào Đắc Trinh làm Phó Bí thư.

7- Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ VII (10-1967)

Từ ngày 14 đến 18-10-1967, tại xã Đốc, huyện Bắc Trà My, Đảng bộ Quảng Nam tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VII.

Đại hội bầu BCH Đảng bộ gồm 25 đồng chí, đồng chí Vũ Trọng Hoàng được bầu làm Bí thư; các đồng chí Hoàng Nguyên Trường và Hoàng Minh Thắng được bầu làm Phó Bí thư.

8- Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ VIII (11-1969)

Từ ngày 16 đến ngày 30-11-1969, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ VIII tổ chức  tại xã Cót, huyện Bắc Trà My). Đại hội  bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 29 đồng chí, đồng chí Trần Thận làm Bí thư, đồng chí Đỗ Thế Chấp làm Phó Bí thư.

9- Đại hội Đảng bộ Đặc Khu ủy Quảng Đà lần thứ  IX (8-1971)

Từ ngày 20 đến ngày 25-8-1971, tại xã Tàpơ, huyện Nam Giang, Đại hội Đảng bộ Đặc khu Quảng Đà lần thứ IX được tổ chức.

Đại hội bầu BCH mới gồm 21 đồng chí, đồng chí Hồ Nghinh được bầu làm Bí thư, đồng chí Trần Văn Đán làm Phó Bí thư Đặc khu ủy.

10. Đại hội đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ X

Từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 3 năm 1973, Đại hội Đảng bộ Quảng Nam lần thứ X được tổ chức. Đại hội bầu BCH Đảng bộ tỉnh gồm 20 đồng chí. Đồng chí Hoàng Minh Thắng làm Bí thư, các đồng chí Đỗ Thế Chấp, Võ Quỳnh làm Phó Bí thư.

Từ ngày 4-10 tháng 9 năm 1973 , Đại hội Đảng bộ Đặc khu Quảng Đà lần thứ X được tổ chức. Đại hội bầu BCH mới gồm 29 ủy viên, trong đó có 2 uỷ viên dự khuyết, đồng chí Trần Thận được bầu làm Bí thư; đồng chí Phạm Đức Nam và ‘I rần Văn Đán được bầu làm Phó Bí thư.

11. Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XI:

Tháng 10 năm 1975, đặc khu Quảng Đà và tỉnh Quảng Nam hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng do đồng chí Hồ Nghinh làm Bí thư; các đồng chí Trần Thận, Hoàng Minh Thắng làm Phó Bí thư.

Từ ngày 12 đến 18-11-176, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XI (vòng I) và từ ngày 25-4 đến ngày 02.5.1977, Đại hội (vòng II) họp tại Đà Nẵng, có 488 đại biểu đại diện cho 23.386 đảng viên toàn Đảng bộ tham dự.

Đại hội bầu BCH Đảng bộ gồm 41 ủy viên, đồng chí Hồ Nghinh được bầu lại làm Bí thư, các đồng chí Võ Văn Đồng và Hoàng Minh Thắng làm Phó Bí thư.

12.  Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XII:

Từ ngày 12-16.12.1979, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XII họp tại Đà Nẵng, tham dự có 495 đại biểu, thay mặt cho 25.791 đảng viên toàn đảng bộ.

Đại hội bầu ra BCH gồm 44 ủy viên, đồng chí Hồ Nghinh được bầu lại làm Bí thư.

13. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XIII:

Ngày 6.1.1983, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XIII (vòng I) và từ ngày 31.1-4.2.1983, Đại hội Đảng bộ tỉnh vòng II) họp tại Đà Nẵng. Tham dự có 553 đại biểu thay mặt cho 30.742 đảng viên toàn Đảng bộ.

Đại hội bầu BCH nhiệm kỳ mới gồm 49 ủy viên, đồng chí Hoàng Minh

Thắng được bầu làm Bí thư, đồng chí Võ Văn Đồng làm Phó Bí thư.

14. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XIV:

Từ ngày 21-29.1.1986, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV họp tại thành phố Đà Nẵng, tham dự có 546 đại biểu thay mặt cho 39.285 đảng viên của Đảng bộ.

Đại hội bầu ra BCH nhiệm kỳ mới gồm 52 ủy viên, đồng chí Nguyễn Văn Chi được bầu làm Bí thư.

15. Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XV:

Từ ngày 16-19.10.1991, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV họp tại Đà Nẵng. Tham dự có 353 đại biểu thay mặt cho 43.000 đảng viên của Đảng bộ.

Đại hội bầu BCH nhiệm kỳ mới gồm 49 uỷ viên, đồng chí Nguyễn Văn Chi được bầu làm Bí thư, các đồng chí Lê Quốc Khánh và Trần Đình Đạm làm Phó Bí thư.

16. Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XI:

Từ ngày 23 – 27.4.1996, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XVI họp tại thành phố Đà Nẵng. Tham dự có 349 đại biểu thay mặt cho 45.518 đảng viên của toàn Đảng bộ.

Đại hội bầu ra BCH nhiệm kỳ mới gồm 47 ủy viên. Đồng chí Mai Thúc Lân được bầu làm Bí thư, các đồng chí Trương Quang Được và Nguyễn Đức Hạt làm Phó Bí thư.

Ngày 1.1.1997, Nghị quyết kỳ họp thứ X, Quốc hội khóa IX, tỉnh Quảng

Nam – Đà Nẵng được tách thành hai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Theo đó, Đảng bộ lâm thời Quảng Nam được thành lập gồm 36 đồng chí, đồng chí. Mai Thúc Lân giữ chức Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Lê Trí Tập và đồng chí Nguyễn Đức Hạt giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

17. Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Nam XVII:

Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XVII được tiến hành từ ngày 8-10.10.1997, tại thị xã Tam Kỳ. Tham dự đại hội có 250 đại biểu thay mặt cho hơn 25.000 đảng viên ở tất cả các lĩnh vực của 14 đảng bộ huyện, thị và 5 đảng bộ trực thuộc.

Đại hội bầu BCH Đảng bộ tỉnh khóa XVI gồm 47 đồng chí, đồng chí Nguyễn Đức Hạt được bầu làm Bí thư, các đồng chí Nguyện Hữu Mai, Lê Trí Tập làm Phó Bí thư.

18. Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Nam XVIII:

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XVIII được tiến hành từ ngày 5-8.12.2000 tại thị xã Tam Kỳ. Tham dự đại hội có 300 đại biểu thay mặt cho 28.279 đảng viên trong Đảng bộ.

Đại hội bầu ra BCH nhiệm kỳ mới gồm 47 đồng chí, đồng chí Nguyễn Đức Hạt được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, các đồng chí Nguyễn Hữu Mai, Vũ Ngọc Hoàng.

19. Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Nam XIX (12-2005):

Từ ngày 6-8.12.2005, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XIX diễn ra tại Tam Kỳ. Tham dự Đại hội có 199/200 đại biểu đại diện cho 36.403 đảng viên.

Đại hội bầu BCH nhiệm kỳ 2006-2010 gồm 49 đồng chí, đồng chí Vũ Ngọc Hoàng được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, các đồng chí Nguyễn Đức Hải, Nguyễn Xuân Phúc làm Phó Bí thư. (Tháng 4-2006), đồng chí Nguyễn Xuân Phúc được Trung ương điều động về công tác tại Thanh tra Chính phủ (sau chuyển về Văn phòng Chính phủ); tại Hội nghị lần thứ 5 vào ngày 26 tháng 10 năm 2006, Tỉnh ủy đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Sỹ, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy).

( Nguồn: Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930 – 1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006; .Biên niên sự kiện Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (1975 – 2005), Tỉnh ủy Quảng Nam xuất bản năm 2007).

Các đồng chí bí thư Đảng bộ tỉnh từ  khi thành lập cho đến năm 2007

 

1. Đồng chí Phan Văn Định: Sinh ngày 11 tháng 5 năm 1903, tại làng Đông Thái, tổng Việt Yên, nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.  Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1930.

2. Đồng chí Võ  Minh. Sinh năm 1905, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.  Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy từ cuối năm 1932 đến tháng 5 năm 1935.

3. Đồng chí Phạm Thâm (Phạm Tấn  Khánh): Sinh năm 1903, tại làng Xuân Đài, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh  ủy  từ tháng 8 năm 1930 đến tháng 10 năm 1930.

4. Đồng chí Nguyễn Trác ( Nguyễn Thiếu): Sinh ngày 4 tháng 11 năm 1904, tại làng Hà Thanh, tổng Hạ Nông, phủ Điện Bàn, nay là làng Hà Tây, xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.   Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam từ cuối năm 1936 đến tháng 10 năm 1938.

5. Đồng chí Nguyễn Thành Hãn: Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1905, tại làng Trà Kiệu Tây, nay thuộc  xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thời  gian giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 11 năm 1938 đến tháng 2 năm 1939.

`6. Đồng chí Nguyễn Đúc Thiệu: Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1907, tại Ấp  Nhì, làng Ái  Nghĩa, nay là khu 2, thị trấn  Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy  từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1939.

7.  Đồng chí  Hồ Tỵ (Hồ Trí Tân): Sinh tháng 10 năm 1906, tại thôn An Lộng, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, nay thuộc xã Triệu Hòa,  huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 10 năm 1940 đến tháng 10 năm 1941.

8. Đồng chí Trương Hoàn (Trương Văn Hoàn): Sinh năm 1911, tại làng Hưu Niên, tổng An Dạ, phủ Triệu Phong, nay là xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 10 năm 1941 đến tháng 7 năm 1942.

9. Đồng chí Võ  Chí Công (Võ  Toàn): Sinh ngày 8 tháng 7 năm 1913, tại

làng Tam Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay là thôn Thương Mỹ, xã Tam Xuân 1 , huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

10. Đồng chí Trần Văn Quế: Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1922, tại làng Thọ Thương, tổng Đức Hòa, phủ  Tam  Kỳ nay thuộc thôn 6, xã Tam Hiệp, huyện Núi  Thành, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 4 năm 1944  đến  tháng 9 năm 1945.

11. Đồng chí Nguyễn Xuân  Nhĩ (Tám Tâm): Sinh ngày 15 tháng 02 năm

1912, tại làng Bích Trâm, phủ Điện Bàn, nay  thuộc xã Điện Hòa,  huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 10 năm 1946.

12. Đồng chí Trương  Quang Giao (Trương Quang Viên): Sinh ngày 30 tháng 3 năm 1910, tại xã Tịnh Khuê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Thời gian giữ  chức Bí thư Tỉnh ủy  từ tháng 11 năm 1946 đến tháng 1 năm 1949.

13. Đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (Nguyễn Hữu Trinh): Sinh ngày 1 tháng 1 năm 1923, tại xã Điện Hồng, huyện Điện bàn, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 1 năm 1949 đến tháng 1 năm 1950.

14. Đồng chí Cao Sơn  Pháo ( Bùi  Như Tùng): Sinh năm 1919 tại làng Thái Sơn, xã Điện Tiến, phủ Điển Bàn (nay là huyện Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 1 năm 1950 đến năm 1951.

15. Đồng chí Trương Chi Cương  (trương Kiểm,  Tư Thuận): Sinh ngày 3 tháng 1 năm 1919, tại làng  Phụng Tây (Phụng Châu), xã Xuyên Châu, phủ Duy Xuyên (nay thuộc thôn Phước  Mỹ II,  thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ   chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam -  Đà Nẵng từ tháng 8 năm 1954 đến tháng 1 năm 1955; từ tháng 1 năm 1960 đến tháng 12 năm 1960. Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà tháng 1 năm 1968.

16. Đồng chí Phan Tốn (Phan Huyển): Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1921, tại Xóm Miếu, làng Thọ Thương, tổng Đức Hòa, phủ Tam Kỳ (nay thuộc thôn 6,  xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành), tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956, Bí thư Tỉnh ủy Quảng  Nam từ tháng 2 năm 1956 đến năm 1959.

17. Đồng chí Phạm Tứ ( Mười Khôi): Sinh ngày 4 tháng 4 năm 1917,  tại làng Châu Bí, xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng từ cuối năm 1960 đến năm tháng 12 năm  1962, Bí thư  Tỉnh  ủy  Quảng Nam từ tháng 1 năm 1963  đến tháng 3 năm 1963.

18. Đồng chí Hồ  Nghinh (Hồ  Hữu Phước): Sinh ngày 15 tháng 2 năm 1915, tại phủ Duy Xuyên, nay là thôn, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.  Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà từ tháng 1 năm 1963 đến tháng 11 năm 1967; Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà từ tháng 11 năm 1967 đến tháng 12 năm 1967, từ tháng 2 năm 1968 đến tháng 8 năm 1973, từ tháng 3 năm 1975 đến tháng 10 năm 1975 ; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng từ tháng 10  năm 1975 đến tháng 4 năm 1982.

19. Đồng chí Vũ Trọng Hoàng ( Bốn Hương): Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1923, tại làng Phương Trì, tổng Xuân Phú, nay thuộc xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam từ tháng 3 năm 1963 đến năm 1968.

20. Đồng chí Trần Thận (Trần Cát): Sinh năm 1927, tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà từ tháng 7 năm 1967 đến tháng 11 năm l967; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam từ 1968-1970; Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà từ tháng 9 năm 1973 đến tháng 3 năm 1975.

21. Đồng chí Hoàng Minh Thắng (Nguyễn Tấn Vịnh): Sinh năm 1927, tại

làng Tiên Đóa, nay thuộc Bình Sa, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giừ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam từ tháng 5 năm 1970 đến tháng 10 năm 1975; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng từ tháng 5 năm 1 982 đến tháng 4 năm 1986.

22. Đồng chí Nguyễn Thành Long: Sinh tháng 1 năm 1920, tại phường Xuân Hà, Đà Nẵng nay là phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng. Thời gian giữ chức Quyền Bí thư Tỉnh ủy từ tháng 7 năm 1986 đến tháng 10 năm 1986.

22. Đồng chí Nguyễn Văn Chi: Sinh ngày 28 tháng 7 năm 1945, tại xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, nay là huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Thời gian giữ chức bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵngtừ tháng 10 năm 1986 đến tháng 3 năm 1994.

23. Đồng chí Mai Thúc Lân: Sinh ngày 6 tháng 1 năm 1935, tại xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng từ tháng 3 năm 1994 đến tháng 12 năm 1996; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam từ tháng 1 năm 1997 đến 10 năm 1997.

24. Đồng chí Nguyễn Đức Hạt. Sinh năm 1945, tại xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giừ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam từ tháng 10 năm 1997 đến tháng 7 năm.

25. Đồng chí Vũ Ngọc Hoàng. Sinh năm 1953, tại xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Thời gian giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam từ tháng 8 năm 2001 đến nay.

Hội nghị  mang tính quyết định đến thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở tỉnh Quảng Nam

 

Ở Quảng Nam, vào những ngày đầu tháng 8 năm 1945, trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, bộ máy thống trị tay sai của Nhật từ phủ, huyện đến cơ sở đã bị tê liệt, quần chúng được tập hợp dưới ngọn cờ hiệu triệu của Mặt trận Việt Minh sẵn sàng hưởng ứng khởi nghĩa…

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy triệu tập cuộc họp khẩn cấp tại nhà ông Tòng (Khương Mỹ, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành) vào ngày 12 và 13 tháng 8 năm 1945, bàn kế hoạch chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Cuộc họp đang tiến hành thì chiều ngày 13 tháng 8 năm 1945, từ Đà Nẵng đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ, Tỉnh ủy viên vào cấp báo Nhật hoàng đã đầu hàng đồng minh không điều kiện.

Nhờ quán triệt chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta ” của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về các khả năng cuộc khởi nghĩa của ta có thể lực ra giành thắng lợi, cuộc họp chuyển xuống nhà ông Nguyễn Chiến Khương Mỹ, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành) đêm 13 và ngày 14 tháng 8 năm 1945. Hội nghị Tỉnh ủy liền chuyển trọng tâm sang bàn chủ trương khởi nghĩa và quyết định:

- Phát động toàn dân trong tỉnh nổi dậy giành chính quyền.

- Chuyển tất cả các cấp ủy đảng và Ủy ban Việt Minh các cấp thành Ủy ban Bạo động khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương.

- Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Bạo động giành chính quyền tỉnh Quảng Nam gồm 17 đồng chí; Ban Thường trực gồm 5 đồng chí.

Các thành viên trong ủy ban bạo động tỉnh đang phụ trách địa phương nào sẽ về lãnh đạo khởi nghĩa tại địa phương đó, chỉ điều chỉnh tăng cường một số đồng chí cho những nơi quan trọng.

Hội nghị nhanh chóng kết thúc vào chiều 14 tháng 8 năm 1945; các đồng chí dự lội nghị tỏa về địa phương triển khai cấp tốc kế hoạch khởi nghĩa.

Đêm ngày 17 rạng ngày 18 tháng 8 năm 1945, khởi nghĩa nổ ra thành công ở Hội An và sau đó diễn ra thắng lợi ở các địa phương trong tỉnh.

* Ý nghĩa của hội nghị:

Đêm ngày 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Khởi nghĩa Trung ương đã ra lệnh khởi nghĩa trong toàn quốc (lúc này Quảng Nam chưa nhận được lệnh khởi nghĩa của Trung ương); do đó quyết định của Hội nghị Tỉnh ủy Quảng Nam làm cho chủ trương khởi nghĩa của Tỉnh ủy Quảng Nam kịp thời và phù hợp với mệnh lệnh khởi nghĩa của Trung ương.

Chính nhờ có sự nắm bắt kịp thời chủ trương đường lối của Trung ương Đảng, Đảng bộ Quảng Nam đã nỗ lực vượt bậc chuẩn bị chu đáo từ tuyên truyền giác ngộ quần chúng đến tổ chức tập hợp lực lượng rộng khắp từ nông thôn đến thành thị tạo ra sức mạnh tống hợp cho cách mạng tháng Tám ở Quảng Nam đi đến thắng lợi một cách nhanh gọn. Thắng lợi khởi nghĩa ở Hội An đã đưa Quảng Nam là một trong thững tỉnh khởi nghĩa thành công sớm nhất trong cả nước góp phần thúc đẩy Tổng khởi  nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trên toàn quốc giành thắng lợi hoàn toàn.

 (Nguồn: Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930-1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006).

Các hội nghị của Tỉnh ủy mang tính quyết định đến thắng lợi của chiến cuộc đông – xuân 1953-1954, trên địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng

Bị thất bại liên tiếp ơ Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, kế hoạch “Bình định gấp rút phản công quyết liệt” của thực dân Pháp bị phá sản. Để tìm cách rút lui bằng giải pháp danh dự thông qua việc chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán, tháng 5-1953, tướng Na- va được cử sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương dã vạch ra kế hoạch hành động gồm hai bước, từ giữ thế phòng ngự chiến lược, tập trung lực lượng mở cuộc tiến công bình định miền Nam và miền Trung Đông Dương đến việc đưa quân ra Bắc, giành thắng lợi quyết định để tạo áp lực trong cuộc đàm phán.

Để thực hiện âm mưu đó, tại Liên khu V, địch tập trung quân với số lượng lớn thực hiện kệ hoạch “át-lăng” đánh chiếm vùng tự do Liên khu V. Chúng tăng cường hệ thống phòng thủ, nhất là quanh các thành phố, thị xã, tiến hành nhiều cuộc hành quân, càn quét, ra sức bắt lính… Trước âm mưu của địch, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị họp quyết định mở cuộc tiến công chiến lược đông – xuân 1953, 1954, nhằm tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng Tây Bắc, phối hợp với quân đội Lào giải phóng Phong Xa Lì… Đồng thời, Bộ Chính trị cũng quyết định tiến công giành lấy địa bàn chiến lược Tây Nguyên, phá âm mưu bình định miền Nam của dịch. Trên cơ sở Nghị quyết của Bộ Chính trị:

- Từ ngày 13 đến 17-2-1954, Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng họp hội nghị mở rộng. Hội nghị nhận định rằng trong thời gian tới địch sẽ ra sức bắt lính, cưỡng bức lừa bịp ở vùng tạm chiếm, đánh phá càn quét quy mô vùng du kích, đánh lấn ra vùng giáp ranh. Ở vùng tự do, địch có thể đổ bộ, nhảy dù càn quét dài ngày hoặc có thể chiếm đóng từng bộ phận rồi loang dần ra. Mặt khác chúng tăng cường phi cơ bắn phá các trục giao thông, những nơi chúng nghi có cơ quan, kho tàng của ta, do đó ta phải tích cực đề phòng, kịp thời đối phó, tuyệt đối không được chủ quan.

Sau khi phân tích tình hình, đánh giá ưu khuyết điểm, Tỉnh ủy chủ trương tiếp tục đẩy mạnh du kích chiến tranh, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phá âm mưu chiếm vùng tự do, âm mưu bình định vùng sau lưng địch. Đối với Đã Nẵng, Hội An phải ra sức phát triển phong trào đấu tranh của quần chúng, vạch trần âm mưu và thủ đoạn của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chống dồn dân, bắt lính. Về quân sự, để tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, Tỉnh ủy chỉ thị Tỉnh đội thường xuyên báo cáo tình hình trên chiến trường…

Ngày 22 và 23-4-1954, Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng triệu tập Hội nghị mở rộng. Hội nghị nhận định qua 3 tháng hoạt động, nhân dân tỉnh ta đã giành được nhiều thành tích quan trọng về các mặt. Tuy nhiên, ta chưa có sự phối hợp với chiến trường cả nước một cách liên tục và chặt chẽ. Nhiều nơi ta vẫn chưa thấy hết sơ hở của địch, chưa mạnh dạn phát triển cơ sở, đẩy mạnh phát triển công tác ở vùng sát nách địch, phát triển phong trào du kích chiến tranh, từng bước thu hẹp vùng tạm chiếm. Bên cạnh đó, ở vùng tự.do, cán bộ và nhân dân tuy được giáo dục chính trị tư tưởng, lập trường giai cấp nhưng vẫn chưa thấu suốt hết âm mưu, thủ đoạn của địch là khẩn trương đánh chiếm vùng tự do Liên khu V để củng cố cho miền Nam cho nên công tác chuẩn bị còn chậm và mắc nhiều khuyết điểm, sai sót. Để khắc phục những tồn tại trên, Hội nghị chủ trương tích cực đẩy mạnh hoạt động quân sự ở vùng tạm bị chiếm, khẩn trương chuẩn bị đối phó với âm mưu địch càn quét ra vùng tự do của ta, quyết tâm giành nhiều thắng lợi hơn nữa.

Trên sơ sở nghị quyết của Bộ Chính trị, trong gần hai tháng, Tỉnh ủy Quảng Nam đã liên tiếp tổ chức hai hội nghị mở rộng. Hội nghị diễn ra kịp thời, xác định được tình hình ta và địch, từ đó có sự chuẩn bị sức người, sức của và khi chiến trường có đủ điều kiện, quyết định kịp thời phương án tác chiến, phối hợp với chiến trường cả nước trong chiến cuộc. Đông xuân 1953-1954; mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần vào thắng lợi chung của cả dân tộc.

 (Nguồn: Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930-1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006).

Tư tưởng quyết tâm “đánh Mỹ và thắng Mỹ” của Tỉnh ủy Quảng Nam, Tỉnh ủy Quảng Đà trong những tháng đầu năm 1965

Sau khi quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng tháng 3-1965, rồi Kỳ Hà, Chu Lai, Quảng Nam tháng 5-1965, trong cán bộ chiến sĩ và quần chúng đã xuất hiện tư tưởng lo lắng: Ta có trụ nổi và đánh thắng Mỹ không? và nếu đánh thì đánh bằng cách nào? Đánh Mỹ có giống đánh Pháp trước đây không? Phòng ngự hay tấn công? Ta có tổ chức đấu tranh chính trị, binh vận được hay không vì nhân dân, cán bộ, chiến sĩ ta không biết tiếng Anh?

Trước tình hình đó, chúng ta xác định đế quốc Mỹ là kẻ thù chủ yếu của dân tộc nên ngay từ khi quân Mỹ đổ bộ vào, Đảng bộ và nhân dân Quảng Đà và Quảng Nam đã quán triệt tinh thần và ra nghị quyết “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, dù đế quốc Mỹ thực hiện “Chiến tranh cục bộ” hay “Chiến tranh đặc biệt” ở mức độ cao.

Tháng 3-1965, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà họp mở rộng nhận định tình hình và kết luận: “Việc Mỹ ào ạt đưa quân vào không ngoài dự kiến của Trung ương, do đó ta phải khẳng định quyết tâm: “Chưa giải phóng miền Nam thì còn đánh, chiến tranh gì cũng đánh, đối tượng nào cũng đánh, đông bao nhiêu cũng đánh và lâu bao nhiêu cũng đánh… chúng ta có nhiệm vụ đánh Mỹ trước tiên bằng hai chân, ba mũi giáp công để đóng góp kinh nghiệm cho toàn miền và góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ “; đồng thời phát động cao trào chống Mỹ trong các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Ngày 12-3-1965, du kích xã Hòa Lạc nay là xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đón đánh một toán lính Mỹ, diệt 7 tên mở đầu phong trào đánh Mỹ trong “Chiến tranh cục bộ” của nhân dân Quảng Đà.

Giữa lúc bao nhiêu câu hỏi đang cần giải đáp, Trung ương Cục miền Nam  và Khu ủy V chủ trương phát động cao trào “toàn dân hiến kế đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Phong trào “nhà nhà đón thư Đảng, bàn việc đánh Mỹ cứu nhà, cứu nước” dấy lên sôi nôi ở vùng nông thôn, đồng bằng giải phóng, căn cứ miền núi và cả vùng cài răng lược” giữa ta và địch. Từ trong thực tế đánh Mỹ, vành đai diệt Mỹ Hòa Vang và Chu Lai được hình thành tạo cơ sở thực tiễn để khẳng định khả năng ta có thể đánh thắng giặc. Mỹ bằng “2 chân, 3 mũi giáp công”. Huyện Hòa Vang trở thành tuyến đầu đánh Mỹ ở tỉnh Quảng Đà, huyện Nam Tam Kỳ trở thành tuyến đầu đánh Mỹ ở Quảng Nam.

Từ ngày 5 đến ngày 7-5-1965, du kích xã Hòa Ninh (Hòa Vang) đã gan dạ chống đánh 2 đại đội lính Mỹ, diệt 37 tên Mỹ xâm lược. Từ đó tạo phong trào “ra Hòa Vang đánh Mỹ” và phong trào “tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt”, “tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt” được dấy lên và đem lại nhiều kết quả cụ thể.

Đáng kể trong phong trào đánh Mỹ và diệt Mỹ, nổi lên chiến thắng Núi Thành vào đêm 5, rạng ngày 26- 5-1965.

Ngày 17-5-1965, một đại đội lính Mỹ từ căn cứ Chu Lai triển khai lên phía tât quốc lộ 1, chối điểm ở Núi Thành để bảo vệ phía tây căn cứ Chu Lai. Chưa đầy 10 ngày, đêm 25, rạng sáng ngày 26-5-1965, đại đội lính Mỹ này đã bị Đại đội 2 của tiểu đoàn 70 Quảng Nam, được tăng cường 12 chiến sĩ của đại đội đặc công 16 tiêu diệt sau 30 phút chiến đấu. Lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” tung bay trên đỉnh Núi Thành.

Chiến thắng Núi Thành tuy là trấn đánh nhỏ; số lượng quân Mỹ bị tiêu diệt không nhiều, song có ý nghĩa lịch sử, nói lên tinh thần cách mạng tiến công, sự mưu trí linh hoạt, dũng cảm của quân ta hoàn toàn có khả năng tiêu diệt quân Mỹ, xua tan tư tưởng sợ Mỹ, dù chúng có ưu thế về trang bị và hỏa lực. Đơn vị chiến thắng đã dược ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng cờ lập công đầu, diệt gọn từng đơn vị chiến đấu Mỹ”.

 (Nguồn: Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930-1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006. 40 năm chiến thắng lịch sử Núi Thành, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam, xuất bản 2005).

Cơ cấu kinh tế do Đảng bộ tỉnh chủ trương qua các kỳ đại hội từ năm 1975 đến nay

1. Từ ngày 12 đến 18-11-1976,  Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XI (vòng I) và từ ngày 25-4  đến 2-5-1977, Đại hội (vòng II) họp tại Đà Nẵng.

Đại hội xác định: “Tập trung cao độ sức lực của toàn tỉnh tạo ra bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp bao gồm cả cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp và chăn nuôi, trọng tâm là sản xuất lương thực bao gồm cả lúa và màu. Đẩy nạnh sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu, đồng thời phải đẩy mạnh nghề biển, nghề rừng, phát triển công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp nhằm giải quyết một bước vững chắc nhu cầu của nhân dân toàn tỉnh về lương thực, thực phẩm, tăng nhanh nguồn hàng tiêu dùng thông dụng, tăng nguồn tích lũy cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa”.

2. Từ 12 đến 16-12-1979, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XII họp tại Đà Nẵng.

Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ trong hai năm 1980-1981, trong đó xácđịnh: Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm của Trung ương, phát huy lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống đoàn kết nhất trí, trung dũng kiên cường, cần cù và sáng tạo, tự lực tự cường và tinh thần cách mạng tiên công, dám nghĩ dám làm, xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động dấy lên phong trào cách mạng sôi nôi, liên tục, nhằm khai thác và sử dụng tốt nhất lao động, tài nguyên, phát huy 4 thế mạnh về kinh tế để phát triển sản xuất ổn định và đảm bảo đời sống, sẵn sàng chiến đấu, từng bước xây dựng địa phương thành tỉnh có cơ cấu công – nông nghiệp, giàu về kinh tế, vững mạnh về chính trị và quốc phòng, có cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng cả nước hoàn thành thắng lợi ba nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc, ba nhiệm vụ cấp bách xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

3. Ngày 6-1-1983, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XIII (vòng I) và từ ngày 31-1 đến 4-2-1983, Đại hội Đảng bộ tỉnh vòng II) họp tại Đà Nghị quyết Đại hội nêu rõ: Đẩy mạnh sản xuất toàn diện, tăng nhanh cây công nghiệp (ngắn ngày và dài ngày) đồng thời tạo một bước chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển công nghiệp, tiểu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kết hợp chặt chẽ công nghiệp và nông nghiệp (cả nghề biến và nghề rừng) đáp ứng những nhu cầu lương thực, thực phẩm hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân và phục vụ xuất khẩu, tạo ra năng xuất lao động ngày càng cao, tích lũy ngày càng lớn.

4. Từ ngày 21 đến 29-1-1 986, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XIV họp tại thành phố Đà Nẵng.

Về phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và những giải pháp lớn về kinh tế – xã hội năm 1986 – 1990, Đại hội nêu rõ: Động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy truyền thống trung dũng kiên cường, đẩy mạnh phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, khai thác tốt nhất tiềm năng thế mạnh, mở rộng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất,. đổi mới cơ  chế quản lý, dồn sức phát triển nông nghiệp toàn diện, thật sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đồng thời phát triển mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, lập lại trật tự trên mặt trận phân phối lưu thông, kiên quyết cải tạo xã hội chủ nghĩa, nâng cao chất lượng quan hệ sản xuất mới, tiếp tục xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất kỹ thuật, tất cả nhằm ổn định tình hình kinh tế – xã hội, ổn định và cải thiện một bước đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho bước phát triển kinh tế – xã hội những năm tiếp theo. Tiếp tục phút huy truyền thống, khai.thác tiềm năng, đẩy mạnh sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổ chức lại sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý, phát triển nông nghiệp toàn diện, đồng thời đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

5. Từ ngày 16 – 19.10.1991  Đại  hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XV họp tại Đà Nẵng. Về phương hướng nhiệm vụ, Đại hội xác định: Phương hướng hàng đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh ta trong những năm 1990 là phát triển nông – lâm ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới;  đi đôi với kinh tế cần phát triển khoa học, giáo dục văn hóa nhằm phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ; chú trọng lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường chủ nghĩa xã hội, tiếp tục cuộc vận động làm trong sạch Đảng, nâng cao chất lượng đảng viên và sức chiến đau của tổ chức cơ sở đảng…

6. Từ ngày 23 – 27.4.1996, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lần thứ XVI họp tại thành phố Đà Nẵng.

Nghị quyết Đại hội nêu rõ: Về kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ cấu kinh tế “công – nông nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ”. Hướng trọng tâm của thời kỳ này là phát triển công nghiệp chế biến một số ngành công nghiệp cơ bản, công nghiệp kỹ thuật cao. Các ngành công nghiệp lựa chọn là công nghiệp chế biến nông lâm hải sản, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, dệt, da, may, sản xuất vật liệu xây dựng, lắp ráp điện tử, lắp ráp xe máy, ô tô, đóng sửa tàu biển, luyện cán thép, khai khoáng và hóa dầu”.

7. Dại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XVII được tiến hành từ ngày 8-10.10.1997, tại thị xã Tam Kỳ. Tham dự đại hội ,có 250 đại biểu thay mặt cho hơn 25.000 đảng viên của 14 đảng bộ huyện, thị và 5 đảng bộ trực thuộc.

Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp chủ yếu đến năm 2000, trong đó nhấn mạnh: Quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới của Đảng, phát huy những thành tựu đạt được, động viên toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân nêu cao tinh thần tự lực, tự cường và những truyền thống tốt đẹp của con người Quảng Nam, khai thác các tiềm năng của tỉnh, đẩy mạnh phát triển các thành phan kinh tế theo cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp,  công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – thương mại, du lịch, dịch vụ; chú trọng củng cố và phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Khẩn trương cải tạo, nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo mọi động lực để phát triển kinh tế và tăng nhanh khả năng tài chính của địa phương; kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, chú ý chăm lo các đối tượng được hưởng chính sách, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

8. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XVIII được tiến hành từ ngày 5-8.12.2000 tại thị xã Tam Kỳ. Tham dự đại hội có 300 đại biểu thay mặt cho  28.279 đảng viên trong Đảng bộ.

Phương hướng chung của: toàn Đảng bộ trong nhiệm kỳ tới là: “Phát huy sức mạnh toàn dân, giữ vững khối đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ, tập trung khai thác mọi tiềm năng thế mạnh, phát huy nội lực tạo ra sức mạnh trong phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, hòa cùng nhịp độ phát triển chung của cả nước. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chủ động phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, chú trọng phát triển nông nghiệp toàn diện tạo tiền đề cho công nghiệp và dịch vụ phát triển; phát triển mạnh các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước và HTX dần dần trở thành nền tảng; bảo đảm kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN. Giải quyết các vấn đề xã hội, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm nhanh hộ nghèo, cơ bản không còn hộ đói, nâng cạo đời sống nhân dân. Củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục xây dựng hệ thống chính  trị vững mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ mới”.

9. Từ ngày 6-8-12-2005, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XIX diễn ra tại lam Kỳ. Tham dự Đại hội có 199/200 đại biểu đại diện cho 36.403 đảng viên.

Vc phương hướng chung và mục tiêu phát triển chủ yếu giai đoạn 2006 – 2010, đại hội nêu rõ: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, quyết tâm đổi mới lạo bước đột phá đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh  tế theo hương công nghiệp và dịch vụ. Phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội, chăm lo sự phát triển toàn diện con người.

(Nguồn:  Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam từ XI -XIX và Biên niên sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam 1975 – 2005).

 

Những thành tựu nổi bật của tỉnh Quảng Nam sau mười năm tách tỉnh (1997 – 2007)

1. Về lĩnh vực kinh tế:

Về sản xuất công nghiệp: Tổng giá tri sản xuất công nghiệp năm 1997, mới đạt 40 tỷ đồng, nhưng đến năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 4.525 tỷ đồng, tăng 26,76% so với năm 2005. Nếu tính cả giá trị công nghiệp và xây dựng thì tổng giá trị đạt hơn 7.000 tỷ đồng. Năm 1997, toàn tỉnh chưa có khu công nghiệp nào thì nay có Khu Kinh tế mở Chu Lai, có 5 khu công nghiệp và 18 cụm công nghiệp đang được xây dựng và phát triển.

- Các ngành dịch vụ và du lịch: Năm 1997, toàn tỉnh chỉ có một số khách sạn nhỏ, đến năm 2007, đã có 87 khách sạn, đã có một số khách sạn đạt chuẩn 5 sao, 3 sao với 3.159 buồng, phòng và có hàng trăm nhà nghỉ khác. Doanh thu từ du lịch, dịch vụ tăng nhanh từ 10 tỷ năm 1997 đến năm 2006, đạt 200 tỷ. Tiềm năng du lịch dịch vụ ngáy càng mở ra chiều triển vọng mới.

- Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển, giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 1997, chi đạt 8,8 triệu USD đến năm 2006, đạt 135 triệu USD, tăng 20% so với năm 2005 và gấp 17 lần so với năm 1997. Thị trường xuất khẩu tăng lên hơn 40 nước và vùng lành thổ. Kim ngạch nhập khẩu đạt 126 triệu USD.

2. Về lĩnh vục văn hóa – xã hội:

Giáo dục – đào tạo: Liên  tục có những chuyển biến tích cực, cơ sở hạ tầng trường lớp không ngừng được cải thiện, nhiều trường học, lớp học được xây dựng mới khang trang, không còn tình trạng dạy ca 3, kể cả vùng sâu, vùng xa… Đến nay, trên toàn tỉnh bình quân 3 người dân có một người đi học.

- Khoa học – công nghệ: luôn hướng vào việc nghiên cứu ứng dụng vào cuộc sống, góp phần phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường.

- Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, mạng lưới khám chữa bệnh, nhất  là ở tuyến cơ sở được quan tâm đầu tư, nâng cấp, có 7 bệnh viện cấp tỉnh, 17 trung tâm y tế huyện, thị, thành phố, hàng chục bệnh xá khu vực và 100% xã phường thị trấn có trạm y tế. Công tác dân số KHHGĐ đạt kết quả tốt.  Công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em luôn được quan tâm…

- Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm được triển khai rộng khắp, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể. Toàn tỉnh năm 1997, là 27,3% đến năm 2005 còn 9,5%  (tiêu chí cũ).

- Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển đều khắp ở các địa phương, cơ quan ban ngành, đoàn thể. Thể thao thành tích cao đã gặt hái được nhiều thành tích ở các giải thi đấu quốc gia, khu vực và quốc tế.

- Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thông tin, báo chí có bước phát triển, góp phần tích cực trong việc tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần thiết thực và có hiệu quả vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

3. Về lĩnh vực quốc phòng, an ninh:

Công tác quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh thường xuyên được tăng cường và củng cố, các hoạt động giáo dục quốc phòng toàn dân được coi trọng và góp phần nâng cao nhận thức, đề cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị.

Tích cực xây dựng quốc phòng và thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, gắn chặt với thế trận an ninh nhân dân nhằm nâng cao khả năng phòng thủ, tinh thần chiến đấu cao.

4. Xây dựng hệ thống chính trị:

Công tác xây dựng Đảng không ngừng được tăng cường và đổi mới, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng được nâng lên, năm 2005 có 72% tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh. Các cấp ủy Đảng luôn bám sát các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ để lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Hệ thống chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được xây dựng và củng cố; vai trò, trách nhiệm của chính quyền các cấp trong công tác quản lý nhà nước ngày càng được thể hiện rõ rệt. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực.

Quy chế dân chủ cơ sở được triển khai và bước đầu thu được kết quả, tạo nên sức sống mới, đem lại sự cởi mở, dân chủ trong xã hội. Các tầng lớp nhân dân trong tỉnh luôn tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự đồng thuận xã hội được nâng lên, nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hương Đất Quảng giàu đẹp, văn minh.

(Nguồn: Mười năm một chặng đường, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam, xuất bản năm 2007.)

Mọi thắc mắc về cuộc thi cũng như tài liệu tham khảo xin liên hệ: Văn phòng hoặc Phòng lịch sử Đảng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam.

ĐT: Văn phòng Ban: 0510.852810; Phòng lịch sử Đảng: 0510.812492.

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: